CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ LÒ HƠI CỦA NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
ß1.1– GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
Nhà máy nhiệt điện là tổ hợp các thiết bị có mục đích là chuyển nhiệt năng từ các nguồn thành điện năng.
Nguồn nhiệt năng bao gồm: nhiệt năng sinh ra từ các phản ứng cháy các dạng nhiên liệu hoá thạch, nhiên liệu hữu cơ … ví dụ như dầu, than, khí đốt, thậm chí cả rác, trấu …; nhiệt sinh ra từ các phản ứng hạt nhân và nhiệt thu từ ánh sáng mặt trời, địa nhiệt …
Nhà máy nhiệt điện gồm các phần chính sau:
+ Phần điện: Giống nhau cho các nhà máy, bao gồm máy phát, trạm biến áp và hệ thống điện tự dùng.
+ Phần nhiệt: Tuỳ theo từng loại nhà máy, bao gồm:
– Nhà máy tua bin hơi: Lò hơi, tua bin hơi và thiết bị phụ.
– Nhà máy tua bin khí: Buồng đốt và tua bin khí và thiết bị phụ.
– Nhà máy chu trình hỗn hợp: Buồng đốt và tua bin khí, lò hơi thu hồi nhiệt thải và tua bin hơi.
Nhà máy nhiệt điện thông thường hoạt động theo nguyên lý sau: Nhiệt sinh ra do cháy nhiên liệu ở buồng đốt sẽ đốt nóng nước (hoặc sinh công ở tua bin khí với chu trình hỗn hợp) để sinh hơi quá nhiệt. Hơi quá nhiệt sẽ làm quay tua bin – máy phát. Hơi quá nhiệt sau khi sinh công ở tua bin hơi được ngưng tụ ở bình ngưng và được bơm trở lại lò hơi. Sơ đồ của một nhà máy điện như hình 1.1
Có rất nhiều cách phân loại nhà máy nhiệt điện. Ví dụ:
+ Theo thiết bị tua bin dùng nhà máy:
– Nhà máy điện tua bin khí: Chuyển nhiệt năng của nhiên liệu cháy thành động năng của dòng khí và trực tiếp làm quay tua bin – máy phát. Nhiên liệu dùng trong nhà máy này thường là khí đốt hoặc dầu. Nhà máy này ít dùng vì hiệu suất thấp.
– Nhà máy điện tua bin hơi: Nhiệt năng của phản ứng cháy chuyển thành thế năng của hơi nước trong thiết bị lò hơi. Thế năng này chuyển thành động năng làm quay tua bin – máy phát. Nhà máy điện tua bin hơi có thể dùng tất cả các nguồn nhiên liệu kể trên.
– Nhà máy điện chu trình hỗn hợp: là nhà máy điện kết hợp nhà máy điện tua bin khí với nhà máy điện tua bin hơi. Động năng của khí cháy sau khi làm quay tua bin khí được đưa sang lò thu hồi nhiệt thải. Tại đây nhiệt năng của dòng khí được dùng để sinh hơi và chu trình hơi nước bắt đầu.
+ Theo thiết bị lò hơi (chỉ dùng cho các nhà máy điện có lò hơi). Người ta thường chia nhỏ hơn nữa, có thể theo thông số hơi, dạng chuyển động của nước trong lò, dạng đốt nhiên liệu … Các dạng này sẽ học kỹ trong phần lò hơi.
+ Theo sản phẩm đầu ra:
– Trung tâm nhiệt điện: Đây là nhà máy vừa sản xuất điện năng vừa trực tiếp cung cấp nhiệt năng cho các nhà máy khác thông qua việc cung cấp hơi.
– Nhà máy nhiệt điện thuần tuý: Chỉ sản xuất điện năng.
+ Theo nguyên liệu sử dụng:
– Nhà máy nhiệt điện đốt than: Là nhà máy điện dùng tua bin hơi nước (chu trình hơi nước).
– Nhà máy điện đốt dầu: Có thể chỉ dùng tua bin hơi hoặc dùng chu trình hỗn hợp.
– Nhà máy điện đốt khí: Là nhà máy sử dụng chu trình hỗn hợp.
– Nhà máy điện nguyên tử.
ß1.2- TỔNG QUÁT VỀ LÒ HƠI TRONG NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
Lò hơi là thiết bị quan trọng trong mỗi nhà máy nhiệt điện. Nhiệm vụ của lò hơi là chuyển hoá các dạng năng lượng khác nhau thành nhiệt năng và truyền nhiệt năng đó cho môi chất để chuyển chúng từ thể lỏng thành hơi bão hoà rồi thành hơi quá nhiệt. Hơi quá nhiệt này sẽ được đưa sang làm quay tua bin hơi.
Riêng với lò thu hồi nhiệt thải thì không có nhiệm vụ chuyển hoá năng lượng mà chỉ tận dụng nhiệt từ khói thải của tua bin khí.
1- Cấu tạo của lò hơi
Lò hơi dùng trong nhà máy nhiệt điện gồm các phần chính sau:
+ Hệ thống cung cấp và đốt nhiên liệu, bao gồm các vòi đốt, buồng lửa …
+ Hệ thống cung cấp không khí và thải sản phẩm cháy, gồm các loại quạt, bộ sấy không khí, hệ thống thải xỉ, bộ khử bụi, ống khói …
+ Hệ thống cấp nước, gồm các loại bơm, bộ hâm nước …
+ Hệ thống sản xuất hơi quá nhiệt, gồm các loại bề mặt truyền nhiệt như ống nước lên, ống quá nhiệt, …
Ngoài ra trong lò hơi còn nhiều hệ thống các thiết bị phụ trợ như hệ thống đo lường điều khiển, hệ thống an toàn, khung tường lò, …
2- Các đặc tính cơ bản của lò hơi.
+ Sản lượng hơi D: là lượng hơi do lò sán xuất ra trong một đơn vị thời gian, đơn vị đo là T/h hoặc kg/s. Có ba loại sản lượng hơi:
– Sản lượng hơi định mức D0: là sản lượng hơi lớn nhất mà lò có thể làm việc lâu dài với thông số hơi quy định, thường được ghi trên nhãn hiệu lò hơi.
– Sản lượng hơi kinh tế DKT: là sản lượng hơi mà lò làm việc với hiệu suất cao nhất, thường băng 75 – 90% sản lượng định mức.
– Sản lượng hơi cực đại Dmax: là sản lượng hơi lớn nhất cho phép lò làm việc tạm thời trong thời gian ngắn, vượt sản lượng định mức từ 10 – 20%.
+ Thông số hơi: Thông số hơi của lò được biểu thị băng giá trị của nhiệt độ và áp suất của hơi sau bộ quá nhiệt.
+ Hiệu suất lò hơi: Thường dùng là hiệu suất nhiệt, nó là tỷ số giữa phần nhiệt lượng mà môi chất hấp thu được với tổng nhiệt lượng đưa vào.
Ngoài ra người ta còn có thể dùng một số đặc tính khác như:
+ Năng suất bốc hơi d (kg/m2.h): là lượng hơi sinh ra trong một đơn vị thời gian ứng với một đơn vị diện tích bề mặt truyền nhiệt. Các lò hơi hiện nay thường có năng suất bốc hơi khoảng 22 đến 45kg/m2.h.
+ Suất tiêu hao kim loại g (kg/T/h): Là khối lượng kim loại dùng để chế tạo lò hơi ứng với sản lượng hơi là 1T/h.
+ Nhiệt thế thể tích buồng đốt qv (W/m3): Là lượng nhiệt toả ra trong một đơn vị thời gian ứng với một đơn vị thể tích buồng đốt.
+ Nhiệt thế diện tích ghi lò qR (W/m2): Là lượng nhiệt toả ra trong một đơn vị thời gian ứng với một đơn vị diện tích ghi lò.
ß1.3- CÁC LOẠI LÒ HƠI TRONG NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN
Lò hơi dùng trong nhà máy điện có thể được phân chia theo nhiều cách khác nhau và hiện nay cũng có rất nhiều loại lò đang được sử dụng.
Người ta có thể phân loại lò hơi theo năng suất hơi, theo thông số hơi, theo nhiên liệu, theo cách đốt nhiên liệu … Dưới đây ta nghiên cứu cách phân loại lò hơi theo chế độ chuyển động của nước trong lò.
I- Phân loại lò hơi theo chế độ chuyển động của nước lò.
Nguyên tắc của cách phân loại lò hơi này được chỉ ra trên đồ thị quan hệ giữa áp suất và trong lượng riêng của nước (hình 1.2).
Như vậy, lò hơi tuần hoàn tự nhiên được sử dụng trong vùng áp suất thấp (< 150kg/cm2), nơi có sự chênh lệch trọng lượng riêng giữa nước và hơi lớn; còn hệ thống lò hơi tuần hoàn cưỡng bức, nước bị cưỡng bức tuần hoàn bằng bơm tuần hoàn, được sử dụng trong vùng áp suất cao. Ngoài ra, lò hơi trực lưu được sử dụng trong vùng áp suất siêu cao, nơi có áp suất vượt quá điểm tới hạn.
1- Lò hơi tuần hoàn tự nhiên
”Lò hơi tuần hoàn tự nhiên” là dạng lò mà nước tuần hoàn được là nhờ năng lượng sinh ra từ sự chênh lệch trọng lượng riêng giữa nước ở ống nước xuống và hỗn hợp hơi – nước trong ống sinh hơi.
Nước cung cấp cho lò bằng bơm nước cấp được đưa vào bao hơi sau khi được gia nhiệt bởi bộ hâm nước, nước ở bao hơi chạy tới vùng thấp nhất của lò qua ống nước xuống, sau đó được đưa vào các ống nước lên. Các ống nước lên tạo thành bề mặt trao đổi nhiệt, ở đó nước được đốt nóng và nước đã được đốt nóng đi lên ở dạng hỗn hợp hơi và nước, trở về bao hơi.
Tại bao hơi, hơi được tách ra và được đưa ra khỏi hỗn hợp nước – hơi trong bao hơi bằng bộ tách hơi, nước còn lại được quay vòng tự nhiên lặp lại con đường như khi được đốt nóng (Hình 1.3).
Những đặc điểm của lò tuần hoàn tự nhiên.
trong ống nước lên có thể bám vào vách ống, rất khó di chuyển. Khi đó bề mặt trao đổi nhiệt bị bao phủ bởi màng hơi nước, hiện tượng này gọi là hiện tượng màng sôi. Hiện tượng màng sôi rất nguy hiểm cho lò hơi, nó làm cản trở sự lưu chuyển của nước, làm giảm rất nhiều khả năng truyền nhiệt, dẫn đến nhiệt độ vách ống tăng quá cao có thể làm nổ ống.
Hiện nay, ở Việt Nam đang sử dụng phổ biến loại lò hơi này.
2- Lò tuần hoàn cưỡng bức.
Để khắc phục những nhược điểm của lò tuần hoàn tự nhiên ở áp suất cao, người ta phải dùng thiết bị để cung cấp thêm năng nượng tuần hoàn. Thiết bị này được gọi là bơm tuần hoàn nước lò. Lò hơi này được gọi là lò hơi tuần hoàn cưỡng bức (Hình 1.4).
Trong trường hợp lò có áp suất cao, chiều cao của nó phải được làm cao hơn thoả mãn yêu cầu năng lượng để tuần hoàn nước vì sự chênh lệch nhỏ nhất về tỷ trọng giữa nước và hơi. Mặt khác, khi mà nước tuần hoàn ở áp suất cao, đường kính ống nước được chế tạo nhỏ hơn để tăng trở lực, từ đó sức bền của ống tăng lên. Do đó, năng lượng tuần hoàn mạnh hơn được thoả mãn.
Dạng lò hơi được phát triển để khắc phục sự phá hỏng năng lượng tuần hoàn tự nhiên trong lò hơi áp suất cao là “lò hơi tuần hoàn cưỡng bức” với sự cưỡng bức tuần hoàn được thực hiện bằng bơm
* Ưu điểm của lò hơi tuần hoàn cưỡng bức.
+ Áp suất hơi cao, năng lượng tuần hoàn vừa đủ ở mọi điều kiện điều kiện môi trường thấp, sự tin cậy của lò hơi được cải thiện hơn.
+ Hình dạng bề mặt truyền nhiệt có thể được lựa chọn linh hoạt hơn.
+ Đường kính ống nước ở tường lò có thể nhỏ hơn và do đó trọng lượng của ống giảm đi.
+ Tốc độ truyền nhiệt cao có thể đạt được băng việc thực hiện tăng tốc độ lưu thông trong ống, làm cho hình dáng cấu trúc lò hơi chắc chắn hơn. Trong trường hợp khác, điểm bất lợi của lò hơi tuần hoàn cưỡng bức là sự tăng giá khi xây dựng, tăng điện năng tự dùng, . .. vì phải lắp thêm bơm tuần hoàn lò hơi.
Những đặc điểm của lò tuần hoàn tự nhiên.
3- Lò trực lưu
Lò hơi này dung khi có áp suất đạt tới hạn và trên tới hạn. Lò hơi này có dạng mà thân của nó chỉ bao gồm một nhóm các ống dài và nước được cung cấp bằng bơm nước cấp và sau khi đốt nóng, bốc hơi và quá nhiệt đầy đủ được đưa ra ở dạng hơi quá nhiệt như đã yêu cầu. Dạng lò hơi này được ứng dụng rộng rãi vì nó có lợi thế chỉ gồm có các ống mà không cần bao hơi, sử dụng thích hợp với áp suất cao và có thể được khởi động trong thời gian ngắn vì nó giữ lượng nước ít nhất (Hình 1.5).
Đặc điểm của lò trực lưu
Nước cấp cho lò trực lưu phải được xử lý hoàn toàn trước khi sử dụng, bởi vì nước được cung cấp sẽ bay hơi, và lượng giữ nước nhỏ là lý do quan trọng khiến dễ dàng xảy ra dao động áp suất phụ thuộc vào sự dao động của phụ tải. Để ngăn ngừa hiện tượng này, lò hơi này cần sự phản ứng nhanh của hệ thống điều chỉnh tự động để điều chỉnh tốc độ cấp nước và cấp nhiên liệu.
Trong lò trực lưu, dòng nước tuần hoàn sinh ra không phải do áp suất chênh lệch lớn giữa ống vào và ống ra do đó các ống có thể có hình dạng tự do. Với dạng tự do này của các ống cho phép các ống có dạng khác nhau kết quả là có một cấu trúc bền vững cho toàn bộ lò hơi.
Trong lò trực lưu các ống nước có thể bố trí dạng thẳng đứng hoặc nằm ngang. Lò trực lưu được đặc biệt phát triển ở châu Âu, nhưng hiện nay lò cao áp và lò trên tới hạn được ứng dụng rộng rãi như một nguồn nhiệt cơ bản, nhờ của sự phát triển đặc biệt của công nghệ xử lý nước bằng trao đổi ion, sự phát triển của thiết bị điều khiển tự động trong những năm gần đây.
Việt nam ta hiện nay chưa dùng loại lò hơi này.
4- Lò hơi chu trình kết hợp
Lò hơi này là dạng kết hợp giữa lò hơi tuần hoàn cưỡng bức và lò hơi trực lưu với công suất cao và áp suất trên tới hạn (Hình 1.6).
Đặc điểm của lò hơi chu trình kết hơp.
+ Khi khởi động và khi ở công suất thấp, tốc độ dòng nước vượt quá tốc độ nước cấp luôn có thể được bảo đảm nhờ tuần hoàn nước lò qua tường. (Như lò tuần hoàn cưỡng bức)
+ Khi phụ tải đến “run-out” ở đó tường của buồng đốt có thể được bảo vệ chỉ với tốc độ lưu chuyển của nước cấp, nước tuần hoàn qua tường lò nhờ bơm tuần hoàn ngừng, như vậy lò vận hành như lò trực lưu.
Lò hơi này là lò hơi trực lưu với bơm tuần hoàn, khi cung cấp những đặc điểm sau đây không giống lò trực lưu thông thường:
– Tổn thất nhiệt khi khởi động rất nhỏ
– Lò hơi này không cần công suất lớn khi khởi động, đường đi tắt (bypass) để bảo vệ tường của buồng đốt. Bằng sự lựa chọn đường đi tắt công suất lớn, đường đi tắt công suất nhỏ có thể được đặt với việc làm sạch bên trong đường ống hoặc xử lý lượng nhiệt tất yếu được toả ra phát sinh khi khởi động.
II- Các dạng lò đặc biệt.
1- Lò hơi thu hồi nhiệt thải.
Nhà máy điện chu trình hỗn hợp sẽ được sử dụng nhiều ở phụ tải cận đỉnh, dễ thoả mãn yêu cầu điều chỉnh của lưới điện, bao gồm hai nguồn năng lượng: tua bin khí (dưới đây được viết tắt là “GT”) và tua bin hơi (dưới đây được viết tắt là “ST”). Hơi để chạy ST được cấp bởi lò sinh hơi thu hồi nhiệt thải (dưới đây được viết tắt là “HRSG”), lò này sử dụng nhiệt độ cao của khói thoát từ GT làm nguồn đốt nóng. Trạng thái của hơi sinh ra bởi HRSG thay đổi tuỳ thuộc tình trạng làm việc của GT, hơn nữa cả hai GT và ST được sử dụng chạy phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống điều chỉnh.
HRSG là lò hơi nhằm thu lại nhiệt của khói thải sinh ra khi vận hành GT, nó sử dụng nhiệt thu hồi này làm nguồn nhiệt để sinh hơi. Như vậy, lò hơi này (HRSG) không sử dụng nhiên liệu làm nguồn nhiệt. HRSG được giới thiệu ở tài liệu này làm theo nguyên tắc hồi nhiệt hệ thống ba cấp áp lực nâng cao hiệu quả chu trình hơi (Hình 1.7).
Đặc điểm của lò hơi thu hồi nhiệt thải.
a, Cấu trúc chia đôi của panen ống truyền nhiệt.
Cấu trúc phân tách của panen ống truyền nhiệt sử dụng trong HRSG này không phải là cấu trúc chia đôi thông thường mà là cấu trúc chia ba. Kết quả là tốc độ dòng phân phối của nước/hơi trong ống truyền nhiệt, tốc độ dòng khói và sự phân phối nhiệt độ trong dòng khói có thể bằng nhau, nhờ đó hiệu suất truyền nhiệt được cải thiện. Hơn nữa tỷ lệ dãn nở nhiệt cho mỗi ống góp được giảm bớt bởi chiều rộng panen bị hẹp lại, nhờ đó độ tin cậy của panen cũng sẽ được cải thiện.
b, Ống có cánh
Ống có cánh, là ống có bề mặt truyền nhiệt lớn, sử dụng làm ống truyền nhiệt của HRSG để sinh hơi có hiệu quả bởi khói thải của GT có entanpi và khả năng trao đổi nhiệt thấp. Mặt khác, HRSG này dùng ống có cánh răng cưa với các vết nhỏ ở các phần và các cánh giống cánh hoa trên bề mặt ngoài của nó với mục đích tăng thêm tốc độ truyền nhiệt và giảm vùng lắp ống riêng. Kết quả là chiều rộng của các ống truyền nhiệt đã giảm khoảng 8%.
| Hình 1.7- Sơ đồ nguyên lý lò hơi thu hồi nhiệt thải | |||
c, Hệ thống cấp nước ở HRSG.
HRSG thông thường dùng hệ thống nước cấp mà nước được cấp riêng rẽ theo các đường cao áp, trung áp, hạ áp bằng mỗi bơm nước cấp riêng rẽ, còn HRSG này sử dụng hệ thống nước cấp chỉ có một bơm nước cấp. Vì thế, nước của đường hạ, trung áp được cấp từ tầng giữa của bơm nước cấp. Vì vậy, sự sử dụng chỉ một bơm nước cấp cho phép giảm năng lượng cấp cho bơm, giá thành bảo dưỡng và hơn nữa nó làm cải thiện độ tin cậy của nhà máy điện.
2- Lò tầng sôi.
Lò tầng sôi là dạng lò sinh hơi từ việc đốt nhiên liệu ở trạng thái thuỷ động học đặc biệt, được gọi là “trạng thái sôi tầng” và sự truyền nhiệt tới bề mặt lò hơi qua một số phần không bị cháy. Có hai dạng chính của lò tầng sôi:
+ Lò tầng sôi tạo bọt (sôi).
+ Lò tầng sôi tuần hoàn.
Trên hình 1-8 chỉ ra một phần mặt cắt của lò tầng sôi tạo bọt, ở đó nhiên liệu được đốt cháy ở tầng nóng (800 – 9000C) và chất rắn không bắt lửa (tro, cát, hoặc đá vôi). Các lớp, mà có độ sâu đặc trưng từ 0,5 – 1,5m, được tạo bởi sự thổi không khí qua lưới (gọi là thiết bị phân phối tốc độ). Một phần nhiên liệu cháy ở lớp này và truyền nhiệt cháy tới chất rắn trơ. Những lớp chất rắn, lần lượt truyền trực tiếp sức nóng tới bề mặt lò hơi và tới lượng khói rời khỏi tầng.
Trong lò tầng sôi tuần hoàn (hình 1-9) người ta phun không khí với tốc độ cao qua lưới. Sản phẩm cháy của tầng này dày đặc hơn nhiều so với lò hơi tầng sôi tạo bọt nhưng nó chạy dài tới đỉnh trên buồng đốt. Như vậy kết quả là chất rắn liên tục rời khỏi buồng đốt. Các chất rắn này được giữ lại ở bộ phân ly khói – chất rắn và trở về đáy của tầng với tốc độ cao thích hợp. Sự trở lại của chất rắn được thực hiện bởi dụng cụ gọi là vòng chèn. Những vật rắn ở hỗn hợp còn lại vẫn còn ở nhiệt độ khá cao. Kết quả là nhiệt độ của buồng đốt là hoàn toàn giống nhau và được giữ ở phạm vi 800 – 9000C vì cháy tối ưu và điều khiển được sự phát xạ. Bề mặt truyền nhiệt được xác định sơ bộ là tường bao quanh buồng đốt như lò đốt than bột.
a- Ưu điểm
Lò tầng sôi có một vài đặc điểm khác thường mà nhờ đó chúng trở nên hấp dẫn hơn các dạng lò hơi khác. Một số đặc điểm đó là:
+ Sự linh hoạt về nhiên liệu.
Lò tầng sôi có thể chấp nhận nhiều chủng loại nhiên liệu khác nhau mà hiệu suất lại giảm ít hơn so với các loại lò khác. Đặc biệt nó rất phù hợp với loại nhiên liệu nhiệt trị thấp như than nâu …
+ Điều khiển được khả năng phát sinh dioxit lưu huỳnh.
Không giống các loại lò hơi khác, quá trình đốt cháy và sử dụng nhiệt được duy trì đồng thời ở lò tầng sôi. Đặc tính này cùng với khả năng hỗn hợp chất rắn tốt của nó giúp cho lò tầng sôi duy trì nhiệt độ gần giống nhau trong toàn bộ buồng đốt. Kết quả là nó có khả năng duy trì nhiệt độ cháy trong phạm vi 800-9000C. Khoảng nhiệt độ hẹp này là lý tưởng cho phẩn ứng để hấp thụ SO2 trong khói bởi đá vôi:
CaCO3 = CaO + CO2
SO2 + CaO + 1/2O2 = CaSO4
Sản phẩm của phản ứng là sunfat canxi (CaSO4) có tính tương đối trung hoà.
Khả năng giữ lưu huỳnh này là kết quả của hình dạng và tính chất nhiệt độ thấp của lò tầng sôi. Lò tầng sôi không cần máy lọc độc lập để điều chỉnh sự phát sinh SO2.
+ Sự phát sinh NOx thấp.
Mức độ tiêu biểu của sự phát sinh oxit nitơ từ lò tầng sôi ở phạm vi 100-300 phần triệu (lượng khô). Như vậy độ phát sinh oxit nitơ thấp có nguyên nhân trực tiếp là nhiệt độ cháy thấp, tính bay hơi chất bốc của than ở không khí thấp và bố trí ở cháy tầng sôi.
+ Sự thuận tiện trong vận hành.
Lò tầng sôi có được một số điểm thuận tiện trong vận hành thực tế vì tạo ra nhiều sự dễ dàng khi vận hành, ví dụ:
– Không có ngọn lửa ra ngoài.
– Giảm đốt dầu khi khởi động.
– Thời gian khởi động nóng ngắn.
– Sự ổn định: Lò hơi tầng sôi, các lò tầng sôi tuần hoàn (CFB) cụ thể, có khả năng làm việc khi có những sai sót trong vận hành tốt hơn các lò đốt than bột. Đó là:
* Giảm tắc xỉ.
* Giảm ăn mòn.
* Chuẩn bị nhiên liệu đơn giản.
b- Nhược điểm.
Có một số thiếu sót của lò tầng sôi. Đó là:
+ Yêu cầu năng lượng của quạt lớn.
Cả hai dạng lò tầng sôi đều yêu cầu quạt gió có công suất lớn bởi vì không khí cháy sơ cấp phải khắc phục được trở lực của lưới và khối lượng của tầng chất rắn trong buồng đốt. Sự tiêu thụ năng lượng cao này được bù đắp được do không cần máy nghiền.
+ Bề mặt ghi lò lớn (Lò tầng sôi bọt).
+ Tổn thất nhiệt bề mặt lớn (Lò tầng sôi tuần hoàn).
+ Hiệu suất cháy thấp.
Ngoài ra, theo tốc độ gió cấp cho lò, người ta có thể phân loại lò như sau:
| TT | Phạm vi tốc độ gió | Loại lò |
| 1 | Tốc độ gió qua tầng nhỏ nên hạt rắn nằm trên ghi | Lò ghi |
| 2 | Tốc độ gió cao đủ để nâng các hạt rắn và giữ chúng lơ lửng | Lò tầng sôi bọt |
| 3 | Tốc độ gió cao đủ để thổi các hạt rắn ra khỏi buồng đốt, nhưng chúng quay trở lại ở tốc độ đủ lớn, hạt rắn đi ngược trở lại buồng đốt | Lò tầng sôi tuần hoàn, loại buồng đốt chính ở CEGB |
| 4 | Tốc độ gió rất cao, hạt rắn bị đưa đi bằng không khí | Lò than phun và buồng đốt than bột |